VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

PHÂN VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MIỀN TRUNG

Sub-Institue For Labour And Environment Protection In Central Viet Nam (SILEP)

Định hướng và một số nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ môi trường trong 5 năm tới

Công tác BVMT của Việt Nam cần có những định hướng kế hoạch cần tập trung thực hiện cho giai đoạn tiếp theo để tiếp tục mục tiêu đảm bảo phát triển KT- XH đi đôi với BVMT và phát triển bền vững.

Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn, các khu vực sản xuất tiếp tục duy trì ở mức cao, đặc biệt là các khu vực có hoạt động công nghiệp phát triển mạnh. Vẫn còn một tỷ lệ khá lớn CTR phát sinh từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được phân loại và xử lý đúng kỹ thuật vệ sinh môi trường, đặc biệt là chất thải nguy hại. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại từ lâu nhưng chưa có biện pháp khắc phục và giải quyết hiệu quả. Tình trạng ô nhiêm môi trường của nhiều làng nghề diễn biến ngày càng trầm trọng hơn. Một số loại hình làng nghề, đặc biệt là các làng nghề tái chế cũng đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người lao động và của một bộ phận lớn người dân trong các khu vực này và vùng lân cận. Việc xây dựng các chính sách, giải pháp phù hợp đảm bảo hoạt động bền vững của các làng nghề truyền thống đáp ưng tốt các yêu cầu về BVMT đang gặp nhiều lúng túng do thói quen, tập quán sinh hoạt của người dân.

Ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng cả về số lượng và liều lượng hoạt chất. Đặc biệt, một lượng lớn vỏ bao bì phân bón, thuốc BVTV thải bỏ bừa bãi ra môi trường mà chưa có biện pháp xử lý phù hợp. Đây là nguồn ô nhiễm khá nghiêm trọng cho môi trường đất và nước tại các khu vực chuyên canh nông nghiệp.

Các sự cố môi trường như: sự cố đối với các công trình xử lý chất thải (nước thải, khí thải, CTR), sự cố cháy nổ, rò rỉ hóa chất, tràn dầu và một số sự cố khác tiếp tục gia tăng, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường. Các sự cố nổ, rò rỉ hóa chất xảy ra tại các cơ sở sản xuất chủ yếu do những sơ xuất, bất cập trong công tác phòng ngừa, năng lực và hiệu quả hạn chế trong các hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố.

Công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, không rõ ràng, chưa đầy đủ và thiếu tính đồng bộ. Năng lực quản lý nhà nước về BVMT không theo kịp với sự phát sinh và tính chất ngày càng phức tạp của các vấn đề môi trường. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Công tác quản lý và kiểm soát nguồn thải từ hoạt động công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu.

Với những thách thức đặt ra trong giai đoạn 2011 – 2015, công tác BVMT của Việt Nam cần có những định hướng kế hoạch cần tập trung thực hiện cho giai đoạn tiếp theo để tiếp tục mục tiêu đảm bảo phát triển KT- XH đi đôi với BVMT và phát triển bền vững. Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ 4 (tổ chức vào tháng 9/2015) đã thảo luận và thống nhất đưa ra một số định hướng cho công tác BVMT giai đoạn 2016 – 2020, cụ thể:

  1. Quản lý và kiểm soát hiệu quả các nguồn thải trọng điểm.
  2. Giải quyết những vấn đề môi trường nổi cộm, từng bước giảm nhẹ và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu vực trọng điểm.
  3. Giám sát các vấn đề về ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, ứng phó hiệu quả với diễn biến BĐKH.
  4. Kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về BVMT.
  5. Công tác quản lý  và BVMT  quốc gia phải bám sát với xu hướng chung của thế giới, định hướng phát triển bền vững, chuyển đổi mô hình tăng trưởng hướng tới nền kinh tế xanh  để đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới.

Để khắc phục những hạn chế, chủ động  phòng  ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm, tạo bước chuyển biến căn bản trong công tác bảo vệ môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và pháp luật về bảo vệ môi trường; bảo vệ môi trường là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng, doanh nghiệp và nhân dân; thu hút đầu tư phải bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường; không cho phép đầu tư vào các loại hình sản xuất, sử dụng công nghệ lạc hậu có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Chỉ thị cũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương phải phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường từ khâu xét duyệt, thẩm định đến triển khai thực hiện và vận hành dự án. Chủ đầu tư, cơ quan quyết định, phê duyệt đầu tư, thẩm định công nghệ sản xuất, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường của dự án. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề môi trường trên địa bàn. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, Chỉ thị đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường trong thời gian tới.

Một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách

  1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường:

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT, trước mắt tập trung sửa đổi các quy định về bảo vệ môi trường trong các luật về môi trường, tài nguyên, thuế, ngân sách, đầu tư, xây dựng, khoa học và công nghệ, năng lượng… bảo đảm thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

Rà soát, trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường, khắc phục những bất cập hiện nay, nhất là các quy định về các công cụ, biện pháp quản lý nhà nước, biện pháp kỹ thuật kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải của doanh nghiệp. Rà soát, điều chỉnh các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phù hợp với điều kiện trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế, kết hợp thải lượng chất ô nhiễm và sức chịu tải của môi trường;

Xây dựng hệ thống tiêu  chí  về môi trường làm cơ sở lựa chọn, sàng lọc loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư;

Ban hành hoặc sửa  đổi, bổ sung các quy định về bảo vệ môi trường theo hướng ngăn chặn các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường;

Quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường đối với các loại hình dự án đầu tư; đề xuất giá dịch vụ trong xử lý chất thải, đặc biệt là chất thải rắn.

Nghiên cứu, sửa đổi phù hợp và tổ chức thực hiện nghiêm túc tiêu chí về bảo vệ môi trường trong việc công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới.

Rà soát, trình Chính phủ quy định giao Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương ban hành các quy chuẩn kỹ thuật môi trường của địa phương, tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm cao và các đô thị đông dân cư, khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm cần được bảo vệ.

  1. Tăng cường và chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm

Tập trung thanh tra, kiểm tra các đối tượng có lưu lượng nước thải từ 200 m3/ngày đêm trở lên trên phạm vi cả nước; rà soát đánh giá tác động môi trường, công trình, biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án lớn, nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường; rà soát, chấn chỉnh công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; xây dựng kế hoạch thanh tra môi trường, bảo đảm không chồng chéo, không gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tổng điều tra, đánh giá, phân loại các nguồn thải trên phạm vi cả nước; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải, hoàn thành trong năm 2018.

Tăng cường trách nhiệm,  có cơ chế phù hợp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông.

Xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo về môi trường  tại các vùng kinh  tế trọng điểm, các khu vực tập trung nhiều nguồn thải, khu vực nhạy cảm về môi trường.

Ban hành  bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng kết quả bảo vệ môi trường của các địa phương.

Rà soát các báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, các công trình biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư, nhất là các dự án lớn có nguy cơ cao tác động xấu đến môi trường để có điều chỉnh kịp thời.

Đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động của lực lượng cảnh sát môi trường theo hướng tập trung vào đấu tranh, phòng chống tội phạm về môi trường; xử lý các vụ việc vi phạm nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự.

Tăng cường công tác đánh giá tác động của công nghệ nhập khẩu đến môi trường; rà soát các dự án nhập khẩu dây chuyền, công nghệ xử lý rác thải; đề xuất công nghệ, thực hiện thí điểm xử lý chất thải rắn bằng công nghệ của Việt Nam.

Rà soát, điều chỉnh,  bổ sung các quy hoạch liên quan đến xây dựng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm rõ những nội dung bảo vệ môi trường và từng công trình bảo vệ môi trường; rà soát, kiểm tra việc tuân thủ quy hoạch xây dựng chi tiết đối với các dự án đầu tư lớn, có tác động xấu đến môi trường; rà soát định mức, chi phí cho bảo vệ môi trường trong tổng mức đầu tư của dự án xây dựng.

Rà soát và tổ chức kiểm tra việc tuân thủ thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt với các dự án đầu tư lớn, có tác động xấu đến môi trường.

Tăng cường kiểm tra, đôn đốc chủ dự án, nhà đầu tư  tuân thủ các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ vận hành dự án.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung xử lý triệt để, di dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư, chuyển vào các khu công nghiệp; yêu cầu tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; buộc đối tượng có quy mô xả lớn lắp đặt ngay các thiết bị kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải theo quy định của pháp luật và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương; hoàn thành việc  phê duyệt, rà soát phê duyệt lại theo thẩm quyền quy hoạch quản lý chất thải rắn; tổ chức thực hiện ngay quy hoạch đã được phê duyệt; điều tra, đánh giá, khoanh vùng và có kế hoạch xử lý các khu vực ô nhiễm tồn lưu trên địa bàn.

  1. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và huy động nguồn lực cho bảo vệ môi trường

Rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực quản lý môi trường, ưu tiên cấp huyện, xã; sử dụng nguồn sự nghiệp môi trường để bố trí cán bộ hợp đồng phụ trách công tác bảo vệ môi trường cấp xã; tăng cường đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Cân đối, bố trí vốn đầu tư cho các dự án xử lý nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại theo quy hoạch đã được phê duyệt ngay trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và dài hạn.

Trình Thủ tướng Chính phủ phương án bảo đảm kinh phí cho bảo vệ môi trường theo hướng: tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, cân đối kinh phí thường xuyên sự nghiệp môi trường hàng năm không dưới 1% tổng chi ngân sách Nhà nước và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; tính đúng, tính đủ giá dịch vụ môi trường; đề xuất phương án để dành 100% tiền xử phạt vi phạm hành chính về môi trường để đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường.

Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ Đề án về cơ chế đột phá huy động nguồn lực, thu hút đầu tư, xã hội hóa bảo vệ môi trường, thực hiện đúng nguyên tắc: “người được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường; người gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại”.

Chi đúng, chi đủ nguồn ngân sách nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ môi trường, phân loại rác tại nguồn và thu gom rác thải; tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phối hợp, phản biện, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường; chủ động cung cấp thông tin, phát huy vai trò của báo chí trong công tác bảo vệ môi trường.

  1. Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ

Thay đổi tư  duy về hợp tác quốc tế, chuyển từ  quan niệm thụ động tiếp nhận sang chủ động hội nhập, sẵn sàng cùng tham gia, chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Tăng cường đầu tư tài lực và nhân lực cho hợp tác quốc tế về môi trường, tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế về môi trường, bố trí kinh phí để thực hiện các sáng kiến, sự kiện do Việt Nam chủ trì. Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế của ngành, xác định các định hướng hợp tác chiến lược, tập trung vào những vấn đề vừa giải quyết nhu cầu trong nước, vừa đóng góp giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu và khu vực, chú trọng những vấn đề mới mà Việt Nam có lợi thế.

Tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác bền vững với các đối tác truyền thống và mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế khác nhằm huy động nguồn lực quốc tế cho hoạt động BVMT của Việt Nam. Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, coi trọng việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế, thúc đẩy hợp tác Á – Âu, châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN, ASEAN+3, cơ chế hợp tác môi trường Đông Á, hợp tác về môi trường các nước Tiểu vùng sông Mê Công trong BVMT. Tăng cường xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự án về BVMT chung trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương về môi trường.

                                               (Nguồn tin: Tổng hợp từ Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015)