VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

PHÂN VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MIỀN TRUNG

Sub-Institue For Labour And Environment Protection In Central Viet Nam (SILEP)

Thành tựu và hạn chế trong công tác AT-VSLĐ tại Việt Nam, nguyên nhân và bất cập từ góc độ người lao động

Tóm tắt: Sau 20 năm kể từ khi Bộ luật lao động có hiệu lực (01/01/1995), công tác an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đạt được nhiều thành tựu và dần đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Việc tìm hiểu, nhìn nhận đủ và rõ các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong công tác ATVSLĐ ở nước ta là rất quan trọng trong đó có việc xác định đúng vai trò của Người lao động trong tiến trình này.

  1. Thành tựu và hạn chế công tác an toàn – vệ sinh lao động tại Việt Nam

Những thành tựu nổi bật

– Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về An toàn – Vệ sinh lao động: Quá trình phát triển sự nghiệp Bảo hộ lao động (BHLĐ), ATVSLĐ của nước ta được ghi nhận bởi nhiều thành tựu, những cột mốc quan trọng, điển hình là việc tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật. Trong 20 năm (1995 – 2015), từ khi Bộ Luật lao động của nước ta bắt đầu có hiệu lực, các cơ quan quản lý Nhà nước đã tiến hành rà soát nội dung về ATVSLĐ tại  hàng  trăm  văn  bản  quy  phạm pháp luật. Trên cơ sở đó, bổ sung, sửa đổi nội dung Pháp lệnh Bảo hộ lao động, Bộ Luật lao động (2002, 2006 và 2012) và mới đây nhất là Luật An toàn, Vệ sinh lao động đã được Quốc Hội khoá XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2016). Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ đã và đang ban hành các Nghị định, Quyết định, Thông tư quy định chi tiết hướng dẫn thực hiện các chế độ về Bảo hộ lao động, ATVSLĐ và những vấn đề liên quan. Đồng thời, các Bộ,  ngành,  địa phương  đã tổ chức xây dựng hàng trăm văn bản và bãi bỏ hiệu lực hàng chục văn bản.

Xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn ATVSLĐ: Từ những năm 60 của thế kỷ 20 cho đến trước khi Luật Tiêu chuẩn (TC) và Quy chuẩn (QC) ban hành (tháng 6/2006), Việt Nam đã có gần 500 tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về lĩnh vực an toàn – vệ sinh – sức khoẻ được ban hành, trong đó chỉ riêng về lĩnh vực phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) cũng có tới 74 TCVN.

Trong các năm qua, Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực như Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng đã tập trung hoàn thiện các văn bản pháp quy kỹ thuật nhằm quản lý an toàn đối với các lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN), như: khai thác mỏ, xây dựng, cơ khí, sản xuất và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động (ATLĐ), các loại PTBVCN, … và tập trung rà soát các quy phạm ATLĐ, quy trình kiểm định và các văn bản pháp quy kỹ thuật để sửa đổi, bổ sung, chuyển đổi và xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATLĐ theo quy định của Bộ Luật lao động và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

Công tác tổ chức thực hiện: Việc thể chế hóa bằng các văn bản dưới luật về pháp luật lao động nói chung và về  lĩnh vực ATVSLĐ nói riêng đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các Bộ, Ngành, địa phương, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp – DN), trong sản xuất nông nghiệp và đủ cơ sở pháp lý để đưa các quy định về ATVSLĐ trong Bộ luật Lao động vào cuộc sống.

Các cơ quan quản lý Nhà nước trước hết là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các cơ quan Lao động, Y tế địa phương đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa các văn bản dưới luật, tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn thi hành. Phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn lao động địa phương triển khai các văn bản pháp luật về BHLĐ, ATVSLĐ, tổ chức các lớp tập huấn cho hầu hết cán bộ chủ chốt của các Bộ, Ngành, các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, cán bộ quản lý các DN.

Bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác BHLĐ đã từng bước được củng cố tại các cơ quan quản lý nhà nước. Tại các Bộ và Bộ quản lý ngành, chức năng quản lý ATVSLĐ được giao cho một đơn vị trực thuộc, tùy theo đặc thù của ngành, lĩnh vực, như: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có Cục ATLĐ là cơ quan tham mưu cho Bộ quản lý nhà nước về ATLĐ; Bộ Y tế, chức năng quản lý về sức khỏe nghề nghiệp được giao cho Cục Quản lý môi trường y tế; Bộ Công Thương, có Cục Kỹ thuật An toàn – Môi trường công nghiệp;  Bộ  Nông  nghiệp  và  Phát triển nông thôn là Cục chế biên nông lâm, thủy sản; Bộ Xây dựng là Vụ Quản lý hoạt động xây dựng; …

Từ năm 2003, Thanh tra An toàn lao động, Thanh tra vệ sinh lao động (VSLĐ) và Thanh tra chính sách  lao động được sát nhập thành Thanh tra lao động thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội. Ngày 10/7/2008, Bộ LĐTBXH đã phối hợp Bộ Nội vụ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV, trong đó quy định việc thành lập bộ phận quản lý nhà nước, chức năng và quyền hạn về ATLĐ tại các địa phương (tỉnh/huyện/xã).

Công tác huấn luyện ATVSLĐ đã được đổi mới, từ phổ biến văn bản, chế độ chính sách, chuyển sang huấn luyện kỹ năng làm việc an toàn, đánh giá rủi ro và xây dựng các biện pháp tự cải thiện điều kiện lao động; các tài liệu về ATVSLĐ được biên soạn, chỉnh sửa phù hợp; in và phát hành vạn tài liệu huấn luyện tới NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ); đội ngũ giảng viên về ATVSLĐ ngày càng được nâng cao chất lượng; hầu hết các địa phương trên cả nước đã có đội ngũ giảng viên ATVSLĐ tại chỗ.

Việc thực thi pháp luật về ATVSLĐ tại các DN cũng đã có sự chuyển biến nhất định. Các DN đã quan tâm hơn đến tình hình ATVSLĐ, chăm lo sức khỏe của NLĐ như: củng cố  lại  tổ chức  làm công tác BHLĐ; xây dựng nội quy ATVSLĐ, các phương án và biện pháp bảo đảm ATVSLĐ, phòng chống cháy nổ (PCCN), khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố; thực hiện tốt các chế độ trang bị PTBVCN; bồi dưỡng bằng hiện vật; khám sức khỏe định kỳ; khám phát hiện và điều trị BNN; thực hiện chế độ huấn luyện về ATVSLĐ, PCCN, bảo vệ môi trường; … Bước đầu đã chú ý đầu tư đáng kể để cải tiến công nghệ, cải thiện điều kiện làm việc và môi trường ở những khâu nặng nhọc, độc hại như: lắp đặt hệ thống thông gió, hút hơi khí độc, chống nóng, ồn; làm giảm nồng độ bụi, nồng độ hơi khí độc, tăng độ chiếu sáng, cải thiện vi khí hậu, giảm nhẹ lao động thể lực v.v…

Những bất cập và hạn chế

Tần suất TNLĐ dù ở một số thời điểm, giai đoạn có dấu hiệu giảm, nhưng vẫn chưa ổn định và rõ nét. Tỉ lệ TNLĐ chết người và số người chết vì TNLĐ giai đoạn 2006 – 2011 thấp hơn so với tỷ lệ bình quân của năm 1995 – 2005, nhưng số vụ TNLĐ chết người rất nghiêm trọng còn xảy ra nhiều. Theo báo cáo của Cục ATLĐ, TNLĐ có xu thế tăng nhanh từ 840 trường hợp năm 1995 lên 3.405 trường hợp năm 2000 và lên tới 6.337 trường hợp năm 2007. Tử vong do TNLĐ cũng tăng từ 264 trường hợp năm 1995 lên 406 trường hợp năm 2000 và lên tới 621 trường hợp năm 2007. Giai đoạn 2008-2011, số vụ TNLĐ tương đối ổn định ở mức bình quân 5.777 vụ/năm với số người bị tai nạn khoảng 5.982 người. Nhưng trong vài năm trở lại đây, những chỉ tiêu thống kê này luôn ở mức trên 6.695 vụ tai nạn với số người bị tai nạn không dưới 6.887 người.

Bảng 1. Thống kê số vụ TNLĐ và người bị tai nạn từ 2004-2014

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Số vụ TNLĐ

6.026

4.050

5.581

5.951

5.836

6.250

5.125

5.896

6.777

6.695

6.709

Số NLĐ bị tai nạn

6.118

4.164

6.088

6.337

6.047

6.421

5.307

6.154

6.967

6.887

6.943

Nguồn: Báo cáo thống kê tình hình tai nạn lao động hàng năm, Cục ATLĐ

Số liệu thống kê báo cáo này chủ yếu được thu thập từ các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, có thể còn rất nhiều những trường hợp tai nạn và tử vong tại nơi làm việc của các DNVVN, các khu vực phi chính thức chưa được cập nhật. Bình quân giai đoạn 1992 – 2000, mỗi năm, TNLĐ làm chết 350 người; giai đoạn 2001 – 2012, bình quân hàng năm xảy ra khoảng 500 vụ TNLĐ chết người, làm gần 600 người bị chết, số bị thương nặng khoảng 1.400 người.

Bảng 2. Thống kê số vụ TNLĐ chết người và số người bị chết từ 2004-2014

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Số vụ TNLĐ

chết người

516

443

505

505

508

507

554

504

552

562

592

Số NLĐ chết

575

473

536

621

573

550

601

574

606

627

630

Nguồn: Báo cáo thống kê tình hình tai nạn lao động hàng năm, Cục ATLĐ

Trong thời gian tới, tình hình TNLĐ, BNN nhiều khả năng sẽ còn gia tăng mạnh hơn dưới tác động của nhiều yếu tố như:

  1. i) Sự phát triển mạnh của các danh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), với trình độ công nghệ vẫn còn  lạc hậu;
  2. ii)   Nhập khẩu và sử dụng các máy, công nghệ, vật liệu mới mà kết cấu, hình thức máy không phù hợp với vóc dáng, sức khỏe và khả năng làm chủ công nghệ của lao động Việt Nam;

iii) Xu thế phát triển mạnh các ngành có nguy cơ cao về TNLĐ, BNN;

  1. iv) Sự chuyển dịch NLĐ từ khu vực nông nghiệp  sang  khu  vực  công  nghiệp  với trình độ tay nghề thấp;
  2. v) Lực lượng làm công tác BHLĐ ở cấp xã không có.

Một cách tổng quát, theo phân tích trong Báo cáo tổng kết 18 năm thi hành pháp luật ATVSLĐ và Đề tài khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật ATVSLĐ” của Bộ LĐTBXH, những bất cập, hạn chế chính trong công tác ATVSLĐ bao gồm:

– Thứ nhất, hệ thống pháp luật về ATVSLĐ còn chồng chéo, phân tán; việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm gây khó khăn cho việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ.

Cho đến trước khi Luật ATVSLĐ chính thức được Quốc Hội ban hành ngày 25/6/2015, nội dung về ATVSLĐ vẫn đang được quy định trong nhiều văn bản luật và nhiều văn bản do Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành; hệ thống QC kỹ thuật ATVSLĐ chậm được rà soát chuyển đổi và ban hành đáp ứng yêu cầu sản xuất, phát triển công nghệ, vật liệu mới; đối tượng điều chỉnh trong Bộ luật lao động hiện nay chỉ điều chỉnh, áp dụng đối với hoạt động lao động có quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ. Trong khi đó, công tác ATVSLĐ liên quan đến cả những đối tượng không thuộc phạm vi trên (nông dân, ngư dân, diêm dân và lao động tự do; NLĐ trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ không có giao kết hợp đồng lao động như trong các hộ gia đình, các làng nghề,…) chế tài xử phạt chưa đủ  sức răn đe NSDLĐ vi phạm.

Nhiều TC, QC ban hành đã lâu, trở nên lạc hậu so với sự phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đa số TCVN được ban hành từ những năm 1980, 1990 và thậm trí nhiều TCVN ban hành từ những năm 1970 đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, ban hành lại. Đến nay, chưa có QC ATLĐ riêng cho sản xuất nông nghiệp, mà chỉ có 1 số quy phạm an toàn liên quan đến sản xuất nông nghiệp như quy phạm an toàn điện, cơ khí, an toàn thuốc bảo vệ thực vật. So với yêu cầu thực tế, việc ban hành các QC kỹ thuật quốc gia về ATLĐ còn rất hạn chế.

– Thứ hai, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước nói chung còn rất thiếu và yếu, bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ với tổ chức bộ máy, biên chế và trình độ cán bộ.

Lực lượng cán bộ làm công tác ATVSLĐ thuộc ngành lao động chỉ có gần 500 người trong khi số lượng DN là quá lớn. Tổ chức bộ máy của thanh tra ATLĐ, thanh tra VSLĐ của Nhà nước trong những năm qua chưa ổn định: Đội ngũ cán bộ thanh tra vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chất lượng; Thanh tra ATVSLĐ nằm trong thanh tra chung nên còn nhiều bất cập, hạn chế; nguồn lực cho công tác thanh tra về ATLĐ, VSLĐ, lực lượng thanh tra lao động có chuyên môn kỹ thuật để triển khai thanh tra, kiểm tra về ATVSLĐ ngày càng ít, có địa phương không có; Việc quản lý môi trường lao động, quản lý sức khỏe NLĐ tại các cơ sở lao động còn rất hạn chế, số nơi làm việc, NLĐ trong diện quản lý chiếm tỷ lệ rất thấp; Chưa có chế tài để xử phạt đối với NSDLĐ, NLĐ không chấp hành pháp luật về VSLĐ; Một số địa phương còn “rải thảm đỏ” để đón các khu công nghiệp, có những quy định không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật về VSLĐ, phòng chống BNN, vì vậy gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện công tác này; việc nghiên cứu, bổ sung BNN mới vào trong danh mục BNN được nhà nước bảo hiểm còn chậm, thủ tục rườm rà, khó khăn do đó cũng gây ảnh hưởng đến chế độ chính sách cho NLĐ; Các vụ TNLĐ chết người hầu hết đều xử lý hành chính nội bộ, số vụ truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% nên không có tác dụng giáo dục, phòng ngừa việc tái diễn và thiếu các giải pháp hữu hiệu để giảm TNLĐ.

Ngành Y tế cũng đang gặp khó khăn trong việc đào tạo cán bộ có đủ khả năng khám phát hiện và điều trị BNN. Một số tỉnh, thành phố cũng đã thành lập phòng khám BNN nhưng việc triển khai hoạt động chưa được hiệu quả do thiếu bác sỹ, trang thiết bị, phòng xét nghiệm. Đội ngũ giám định viên BNN mặc dù cũng được đào tạo và đào tạo lại nhưng số lượng và chất lượng chưa cao. Các cơ sở điều trị, điều dưỡng phục hồi chức năng nghề nghiệp hầu hết thiếu tài liệu, trang thiết bị và cán bộ chuyên môn.

Cơ quan quản lý đối với hoạt động kiểm định kỹ thuật ATLĐ hiện nay chưa phát huy được năng lực kỹ thuật và năng lực chuyên môn của các chuyên gia kỹ thuật. Thị trường dịch vụ kiểm định đã được hình thành theo chính sách xã hội hóa của nhà nước nhưng chưa có những hướng dẫn quản lý đầy đủ, gây nên sự cạnh tranh không lành mạnh, làm cho chất lượng dịch vụ kiểm định kém gây bức xúc trong dư luận.

– Thứ ba, việc tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm, nhiều doanh nghiệp thực hiện các quy định có tính chất chống đối sự kiểm tra của cơ quan quản lí Nhà nước.

TNLĐ, BNN còn xảy ra nghiêm trọng; công tác huấn luyện ATVSLĐ cho NSDLĐ của các địa phương đạt tỷ lệ thấp so với tổng số doanh nghiệp trên địa bàn; công tác quản lý huấn luyện còn lỏng lẻo; việc quy định tổ chức bộ máy làm công tác ATVSLĐ không còn phù hợp với một số mô hình doanh nghiệp mới; công tác chăm sóc sức khỏe NLĐ, tự kiểm tra ATVSLĐ, thống kê báo cáo tình hình TNLĐ, BNN còn rất hạn chế.

2.Nguyên nhân của hạn chế và bất cập từ góc độ người lao động

Theo báo cáo tổng kết 18 năm thi hành pháp luật ATVSLĐ của Bộ LĐTBXH, nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong công tác ATVSLĐ có thể kể ra là:

Một là, các ngành chức năng ở Trung ương cũng như địa phương, chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng  của  công  tác  BHLĐ,   ATVSLĐ, cũng như chưa thấy hết được tác hại và hậu quả xã hội nghiêm trọng do điều kiện lao động xấu, gây TNLĐ, BNN cho NLĐ.

Hai là, nhiều nội dung quan trọng về ATVSLĐ chưa được quy định hoặc không thể quy định rõ trong trong Bộ luật Lao động cho đến khi được thể hiện chi tiết trong Luật ATVSLĐ.

Ba là, hệ thống tổ chức các cơ quan Nhà nước có chức năng giúp Chính phủ thi hành Pháp luật ATLĐ, VSLĐ, trước hết là hệ thống tổ chức thanh tra ATLĐ, thanh tra VSLĐ chưa được kiện toàn. Bộ máy biên chế và trình độ năng lực của các cơ quan thanh tra bất cập với nhiệm vụ và tình hình phát triển các doanh nghiệp ngày càng tăng trong kinh tế thị trường. Mặt khác, chưa có đủ các điều kiện vật chất để bảo đảm thanh tra, kiểm tra khách quan, nhanh chóng, kịp thời theo những điều kiện mới của kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Các cơ quan Kiểm sát, Tòa án nói chung chưa quan tâm đúng mức tới việc đưa ra khởi tố và xét xử những vụ TNLĐ nghiêm trọng.

Bốn là, một số văn bản quy định lĩnh vực quản lý chuyên ngành vẫn còn chồng chéo, bất cập về phân công chức năng, nhiệm vụ trong việc xây dựng các TC kỹ thuật ATLĐ.

Năm là, tổ chức công đoàn các cấp tuy rất quan tâm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ trên lĩnh vực này, nhưng thiếu những yêu sách, những biện pháp kiên quyết yêu cầu các cơ quan quản lý Nhà nước  cũng  như  buộc  NSDLĐ  phải  thi hành nghiêm chỉnh Pháp luật lao động và phải xử lý thích đáng những người thiếu trách nhiệm khi để xảy ra TNLĐ và BNN.

Sáu là, quá trình CNH, HĐH phát sinh những yếu tố nguy hiểm, độc hại mới kéo theo NLĐ phải làm việc trong điều kiện có nhiều nguy cơ mất an toàn. TNLĐ, BNN có xu hướng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Việc tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ của phần lớn các DN hiện nay còn rất yếu kém, đặc biệt là DNVVN, khu vực sản xuất nông nghiệp, làng nghề. Kinh phí đầu tư cho công tác bảo đảm ATVSLĐ và chăm sóc sức khỏe NLĐ của doanh nghiệp còn rất hạn hẹp.

Bảy là, nhiều NSDLĐ chưa quan tâm, đầu tư chăm lo cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ. Cán bộ làm công tác ATVSLĐ và chăm sóc sức khỏe NLĐ còn thiếu và chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đầy đủ. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo các cấp công đoàn chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò ý nghĩa của công tác ATVSLĐ do đó chưa thực sự quan tâm, coi trọng thực hiện công tác bảo đảm ATLĐ, VSLĐ, chưa thấy hết ý nghĩa và tác động của công tác ATVSLĐ và vệ sinh môi trường đối với đời sống NLĐ. Bộ máy làm công tác ATVSLĐ ở một số đơn vị hoạt động chưa hiệu quả. Phần lớn nông dân lao động trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chưa được thông tin, huấn luyện về cách phòng chống TNLĐ, BNN. Các nghiên cứu trước đây cũng đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý, người quản lý đối với tiến   trình thực hiện ATVSLĐ. Tuy nhiên, việc tập trung đánh giá, phân tích nguyên nhân như kể trên sẽ không thật sự đầy đủ nếu đánh giá không đúng hay nói cách khác là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của NLĐ.

Về khía cạnh này, đã có những nghiên cứu, phân tích về thực hiện cơ chế ba bên trong việc thúc đẩy thực hiện pháp luật lao động, trong đó có công tác BHLĐ, ATVSLĐ tại DN. Vai trò, chức năng của Chính phủ, NSDLĐ và NLĐ được đề cập khá rõ, tuy nhiên, chủ yếu tập trung đối với DN có quy mô lớn, có tổ chức Công Đoàn hay tổ đại diện của NLĐ. Trong những năm qua, khái niệm văn hóa an toàn trong lao động được đề cập nhiều hơn, được coi là xu hướng chung của thế giới trong nền kinh tế hiện đại. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm: “Văn hoá an toàn tại nơi làm việc là văn hoá trong đó quyền có một môi trường làm việc an toàn và vệ sinh của NLĐ được tất cả các cấp tôn trọng. Chính phủ, NSDLĐ và NLĐ đều tham gia tích cực vào việc đảm bảo môi trường làm việc an toàn và vệ sinh thông qua hệ thống các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ được xác định. Trong đó, nguyên tắc phòng ngừa được đặt vào vị trí ưu tiên hàng đầu”. Đảm bảo được một văn hóa an toàn tốt có nghĩa là vấn đề an toàn được tất cả các thành phần tham gia hoạt động trong một đơn vị quan tâm đúng mức, và như thế, hành vi an toàn của NLĐ cũng như những đặc điểm nhân thân của họ sẽ có tác động như thế nào đến tiến trình thực hiện an toàn? Cần nhìn nhận đúng hơn về vị trí, vai trò của NLĐ trong công tác ATVSLĐ nói chung và ATVSLĐ tại các DN nói riêng. Cụ thể hơn, cần nhìn nhận rằng, chính sự hạn chế từ ý thức, kiến thức cho đến thái độ của NLĐ cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra sự bất cập, thiếu hiệu quả trong công tác ATVSLĐ. Kiến thức hạn chế, thái độ dễ dãi sẽ không thể dẫn đến những hành động chuẩn mực, không thể tác động đến NSDLĐ, mà ngược lại, NLĐ sẽ không có chính kiến trong việc tiếp cận và tiếp nhận nhiệm vụ, công việc, kể cả công việc nhiều rủi ro. Vậy nguyên nhân xuất phát từ đâu?

Thứ nhất, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật nhìn chung còn thấp. Theo số liệu năm 2012 của Tổng cục thống kê, trình độ học vấn và trình độ được đào tạo nghề của NLĐ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là ở mức thấp nhất trong các khu vực DN của nước ta. Trong các DN ngoài Nhà nước mà chủ yếu là các các DNNVV, có tới 85,19% là lao động phổ thông, có trình độ phổ thông trung học và thấp hơn; số lao động là công nhân kỹ thuật có tỷ trọng là 7,73%, số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp là 3,17 trong tổng số lượng lao động làm việc tại các DN ngoài quốc doanh.

Thứ hai, đặt nặng vấn đề thu nhập: trong quá trình CNH, HĐN, thúc đẩy các dòng chuyển dịch lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị, tỷ lệ lao động phổ thông vì thế mà cũng tăng theo. Trong các khu vực làng nghề, làng có nghề và tính cả làng nghề truyền thống, từ lâu, lao động tại chỗ không còn là lực lượng chính. Qua khảo sát, nghiên cứu phục vụ hoạt động triển khai nhân rộng mô hình quản lý ATVSLĐ tại các khu vực làng nghề, mối quan tâm hàng đầu của NLĐ là thu nhập và nguồn công việc ổn định chứ không phải là chỗ làm ổn định. Việc tuân thủ pháp luật lao động khu vực làng nghề rất hạn chế, tuy nhiên, nguyên nhân không hoàn toàn xuất phát từ sự thờ ơ của NSDLĐ. Hiện tượng phổ biến là NLĐ chủ động trong việc từ chối hình thức thỏa thuận có cam kết, ràng buộc cao về mặt pháp lý để dễ dàng chuyển chỗ làm khi có cơ hội nhận thù lao cao hơn.

Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của NLĐ không chỉ là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất lao động, mà ở khía cạnh an toàn, nó quyết định đến khả năng tiếp thu, tiếp nhận thông tin, kiến thức về ATVSLĐ và vận dụng kỹ năng làm việc sao cho an toàn, bảo vệ cho sức khỏe, tính mạng của chính mình. Trong khi đó, tâm lý nỗ lực hết mình để nâng cao thu nhập khiến tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ bị chính NLĐ xem nhẹ. Thái độ tiêu cực đối với công tác ATVSLĐ được một phần hình thành từ sự thiếu hiểu biết hoặc/và xem nhẹ về những nguyên nhân của vụ TNLĐ và BNN và thực tế có thể làm gì/cần làm gì để ngăn ngừa chúng. Sự thiếu hiểu biết có thể dẫn đến sự thờ ơ và làm cho người ta cảm thấy có ít  nhu cầu để giải  quyết  các vấn đề ATVSLĐ, ngay cả trong các lĩnh vực rủi ro cao. Nó trở thành một vòng tròn luẩn quẩn nơi ATVSLĐ không bao giờ có thể có được sự chú ý đáng có – cho đến khi chu kỳ được bằng cách nào đó bị phá bỏ. Tại nhiều làng nghề, DNNVV, công tác BHLĐ nặng về hình thức, thể hiện qua một vài dòng khẩu hiệu hoặc lời nhắc nhở của NSDLĐ, nhiệm vụ còn lại là tùy ở ý thức, nhận thức và hành động của chính NLĐ, trong bối cảnh còn nhiều hạn chế về mặt quản lý, tổ chức thực hiện, thì điều này có nghĩa là công tác đảm bảo ATVSLĐ tại các khu vực này phụ thuộc vào thái độ và kinh nghiệm của NLĐ, những người nắm bắt rất ít và/hoặc thiếu chủ động trong việc tiếp cận, tìm hiểu các nội dung của pháp luật lao động, của quyền lợi và trách nhiệm trong ATVSLĐ; những người sẵn sàng tiếp cận và tiếp nhận công việc mà theo họ là đem lại thu nhập cao, bất chấp điều kiện lao động đảm bảo hay không.

3.Kết luận

Sau 20 năm kể từ khi Bộ Luật lao động ra đời, công tác ATVSLĐ tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đạt được nhiều thành tựu và dần đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Việc tìm hiểu, nhìn nhận đủ và rõ các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong công tác ATVSLĐ ở nước ta là rất quan trọng. Luật ATVSLĐ chính thức có hiệu lực vào 01/7/2016 sẽ là  tiền đề để tiếp tục củng cố và đẩy mạnh   hơn nữa những thành tựu cũng như loại bỏ các hạn chế bằng nhiều giải pháp mang tính đồng bộ, từ xây dựng, ban hành văn bản dưới luật, đến công tác tổ chức thực hiện và các hoạt động thực thi pháp luật ATVSLĐ của DN.

Mặt khác, để góp phần cải thiện công tác ATVSLĐ, hơn ai hết, NLĐ cần phải: Biết cách tự bảo vệ mình, mạnh dạn bày tỏ chính kiến, đặt ra các yêu cầu đối với NSDLĐ; Nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác ATVSLĐ được pháp luật thừa nhận và thực hiện một cách nghiêm túc; Kiên quyết từ chối làm việc nếu thấy có mối nguy hại đe doạ trực tiếp tính mạng và sức khoẻ; Thực hiện nghiêm quy trình làm việc an toàn; Học tập nâng cao kiến thức về ATVSLĐ để có thể tự nhận diện được các mối nguy hại và biết cách kiểm soát, phòng ngừa hiệu quả;

… Để làm được điều đó, đòi hỏi các chương trình hoạt động liên quan đến đào tạo, huấn luyện, tuyên truyền ATVSLĐ trong thời gian tới cần được đổi mới, loại bỏ tính hình thức, đảm bảo có chiều sâu, quan tâm hơn tới phương pháp, cách thức thực hiện sao cho phù hợp với tình hình lực lượng lao động tại Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đề tài khoa học “Các yếu tố và điều kiện thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động tại doanh nghiệp”, Bộ LĐ-TBXH, Chủ nhiệm: Viện NCKH Dạy nghề, 2008.
  2. Báo cáo tổng kết 18 năm thi hành pháp luật ATVSLĐ và định hướng triển khai đến năm 2020, Bộ LĐ-TBXH, 2012.
  3. Đề tài khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật ATVSLĐ”, Bộ LĐ- TBXH, Chủ nhiệm: Th.S. Hà Tất Thắng, 2013.
  4. Báo cáo kết quả triển khai hoạt động “Nhân rộng mô hình quản lý ATVSLĐ trong khu vực làng nghề”, Viện KHLĐXH, các năm 2010, 2012, 2013 và 2014.
  5. Luật ATVSLĐ, Bộ LĐ-TBXH, 2015.

Th.S. Lê Trường Giang Viện Khoa học Lao động và Xã hội

(Nguồn tin: Theo Bản tin Khoa học Lao động và xã hội, Quí III-2015)