VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

PHÂN VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MIỀN TRUNG

Sub-Institue For Labour And Environment Protection In Central Viet Nam (SILEP)

Một số kết quả nghiên cứu về mô hình vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe người lao động nông nghiệp

  1. Đặt vấn đề

Mặc dù công tác quản lý ô nhiễm môi trường ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, ở đó môi trường sống của người dân đô thị đã được cải thiện. Tuy nhiên, những bất cập vẫn còn tồn tại, nhất là nhận thức của một bộ phận công chúng chưa cao. Điều này trên thực tế làm suy giảm năng lực quản lý ô nhiễm môi trường ở nước ta. Tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ra theo quyết định số 1216/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược BVMT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó đã nêu rõ một trong những quan điểm chủ đạo là “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới”.

Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý ô nhiễm môi trường cần phải được thực hiện một cách đồng bộ và với một lộ trình phù hợp. Vấn đề đặt ra ở đây là cần có một quyết tâm chính trị cao hơn từ các nhà hoạch định chính sách, kết hợp với một chương trình truyền thông sâu rộng để nâng cao nhận thức của người dân, nhất là những người sống ở nông thôn về công tác BVMT.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học công nghệ của Viện nghiên cứu KHKT BHLĐ, năm 2011 ĐCT TLĐ đã phê duyệt cho thực hiện nhiệm vụ : Điều tra, đánh giá, tổng kết, xây dựng các mô hình vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe người lao động trong khu vực nông nghiệp, đề xuất các giải pháp nhân rộng”.

 Qua  kết quả nghiên cứu các mô hình VSMT trong khu vực sản xuất nông nghiệp của nhiệm vụ, có thể khẳng định rằng, cùng với các nhiệm vụ chính trị khác, các đoàn  thể chính trị – xã hội và xã hội nghề nghiệp đã thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình cùng với hệ thống chính trị đã từng bước thực hiện có hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ được quy định trong chiến lược, cụ thể:

– Thứ nhất, đã góp phần từng bước tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của người dân và cộng đồng xã hội về nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Thông qua hoạt động tích cực của các cấp Hội, đoàn thể ở địa phương và các tổ tự quản bảo vệ môi trường ở khu dân cư đã giúp định hướng nhận thức và tạo sự quan tâm, chú ý của người dân đến việc bảo vệ môi trường ở nơi sinh sống, trong việc tổ chức cuộc sống gia đình hằng ngày và những hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là những vùng dân cư có đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số.

– Thứ hai, thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động, giám sát của các cấp Hội, đoàn thể đã phát huy quyền làm chủ, nâng cao tính tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia  thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như xây dựng các quy ước, hương ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức trách nhiệm, tự giác trong bảo vệ môi trường và sống thân thiện, hài hoà với môi trường; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên ở cộng đồng dân cư.

– Thứ ba, góp phần phát huy và tăng cường sự thống nhất hành động giữa các đoàn  thể chính trị – xã hội và xã hội nghề nghiệp, sự phối hợp ngày càng hiệu quả giữa ngành chuyên môn, chính quyền địa phương với các đoàn  thể chính trị – xã hội và xã hội nghề nghiệp  trong việc huy động toàn xã hội tham gia thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.

  1. Kinh nghiệm đúc kết qua các mô hình cộng đồng tham gia BVMT

2.1. Kinh nghiệm làm tốt công tác truyền thông

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, sự hiểu biết cho người dân về bảo vệ môi trường sẽ tạo ra ý thức trách nhiệm và qua đó tăng cường năng lực cho cộng đồng.

Để làm tốt công tác này trước hết cần cung cấp kiến thức về pháp luật bảo vệ môi trường, hiểu biết về môi trường, tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở ngay chính địa bàn, nơi người dân sinh sống và tác động ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khoẻ con người, từ đó tạo ra ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường từ trong mỗi người đến toàn cộng đồng.

Đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường phải tiến tới xây dựng chuẩn mực đạo đức cao đẹp, có những phong tục đẹp về hành động bảo vệ môi trường , tiết kiệm tài nguyên trong đời sống hàng ngày. Thông qua các phương tiện truyền thông như phát thanh, truyền hình, báo in, pano, áp phích, tờ gấp, tranh cổ động… cùng với các hoạt động tuyên tuyền khác như biểu diễn văn nghệ, hội thảo, triển lãm… để chuyển tải thông tin, thông điệp môi trường tới các nhóm đối tượng khác nhau. Hình thức tổ chức nâng cao nhận thức cộng đồng cần đa dạng, phù hợp với từng đối tượng cộng đồng như thông qua các cuộc trao đổi, thảo luận chính thức hoặc không chính thức, lôi kéo cộng đồng tham gia vào những sự kiện như ngày Môi trường thế giới 5/6, ngày làm cho thế giới sạch hơn, giờ Trái đất… để từ đó lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức trong bảo vệ môi trường, tạo cơ hội khuyến khích cộng đồng phát huy các sáng kiến, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường đặc biệt là ở cơ sở.

2.2. Kinh nghiệm tập hợp sức mạnh  cho cộng đồng

Khi cộng đồng đã có nhận thức tốt hơn, đã tự chuyển biến và có ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường, cần tăng cường năng lực cho họ về việc nhận biết các nguồn lực vốn có, khả năng tiềm tàng và sức mạnh của cộng đồng. Nâng cao năng lực cho họ trong việc phát hiện, khai thác sử dụng sức mạnh này. Đồng thời hỗ trợ thêm nguồn lực từ bên ngoài như: vốn, kiến thức về pháp luật và năng lực thực hiện…để các hoạt động được triển khai thực hiện có hiệu quả. Các hình thức chủ yếu để tăng cường năng lực là: tổ chức các khoá tập huấn cho cộng đồng và các cán bộ cơ sở để nâng cao khả năng làm chủ trong việc đưa ra các quyết định cũng như hỗ trợ chính quyền địa phương trong công tác quản lý. Ngoài ra, cần tổ chức các đợt tham quan học tập để trao đổi, học tập kinh nghiệm các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường với các địa phương khác.

2.3. Tổ chức trao đổi và đối thoại

Các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trân tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội cần cung cấp đầy đủ thông tin giúp người dân tự tin hơn và dễ đi đến đồng thuận hơn trong quá trình thảo luận tham gia ý kiến.

Việc đối thoại giữa cộng đồng và các cơ quan chính quyền các cấp kiểm tra giám sát thực thi công tác bảo vệ môi truồng cần được chú trọng. Tăng cường đối thoại cũng là cách giúp người dân tiếp cận được các thông tin cần thiết mà họ quan tâm. Những cơ hội đối thoại này không chỉ giúp cho cộng đồng được bổ sung kiến thức, tiếp cận các văn bản pháp luật mới, mà còn cung cấp những thông tin phản hồi thực tế cho chính quyền địa phương nắm được nhằm điều chỉnh các chính sách cho phù hợp.

2.4. Xây dựng mô hình cộng đồng tham gia BVMT gắn với từng đối tượng cụ thể

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong cộng đồng, nhiều địa phương, cơ sở sản xuất đã lập ra một số tổ chức khác nhau với vai trò là “hạt nhân” và mang tính “tự quản” như câu lạc bộ, Ban điều hành, tổ, nhóm phụ nữ, cựu chiến binh,… theo sự hướng dẫn và chỉ đạo của đoàn thể của mình.

 Về mặt cơ chế nhà nước đã có những văn bản pháp lý công nhận quyền của cộng đồng tham gia công việc chung như Nghị định 80/NĐ-CP của chính phủ về Quy định Giám sát đầu tư của cộng đồng, Pháp lệnh 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dân chủ cơ sở ở xã phường. Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa nắm được và còn loay hoay trong hoạt động và do đó nhiều nơi còn mang tính tự phát.

Để khắc phục, chính quyền các cấp cơ sở còn cần tiếp tục xác định một mô hình  cộng đồng tham gia BVMT gắn với từng loại đối tượng trong cụm dân cư, như: Các cụ cao tuổi, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, người lao động… và có các cơ chế chính sách liên quan để hoàn thiện khung thể chế – chính sách cấp cộng đồng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi. Trong đó ưu tiên giao thêm quyền cho cộng đồng, khuyến khích vật chất và đảm bảo lợi ích cho người dân trong các khu dân cư của thành phố.

  1. Kiến nghị và giải pháp

3.1. Các giải pháp chung

3.1.1.Tăng cường cải thiện môi trường pháp lý và pháp chế về bảo vệ môi trường tại cộng đồng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến vấn đề BVMT, song hiệu quả của việc thực hiện các văn bản này còn rất thấp, chủ yếu do các quy định mang tính chung chung  và chậm được thực hiện trong thực tế. Đặc biệt hiện nay vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định, hướng dẫn về nội dung công tác XHH BVMT, đây là điểm hạn chế cơ bản làm cho công tác này trong những năm qua chưa mang lại kết quả như mong muốn. Vì vậy, cần thiết phải đẩy mạnh công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cùng các nghị định hướng dẫn kịp thời. Các nội dung của XHH công tác BVMT được văn kiện của Đảng xác định như xây dựng các mô hình XHH, đẩy mạnh các phong trào cộng đồng tham gia BVMT cần nhanh chóng được nhà nước cụ thể hóa thành những văn bản pháp luật quy định đối với từng lĩnh vực hoạt động đó, đảm bảo phát huy vai trò, hiệu quả của các mô hình và phong trào. Hệ thống văn bản pháp luật này cần đơn giản, dễ hiểu, dễ triển khai vào đời sống, qua đó nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng cho công tác XHH hoạt động BVMT.

Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nội dung của công tác XHH về BVMT của chúng ta không được thực hiện hiệu quả và một trong những nguyên nhân là do những cản trở của các quan hệ mang tính chất cộng đồng như quan hệ dòng họ, thân tộc qua nhiều thế hệ và đôi khi những quan hệ này đã lấn át các quan hệ pháp lý, khiến cho pháp luật bị thay thế bởi luật tục. Khi đó nếu chỉ sử dụng bộ máy chính quyền để bắt buộc người dân thực thi quy định của pháp luật thì sẽ không đạt được hiệu quả hoặc các quy định pháp luật về môi trường sẽ thiếu cụ thể nếu không được chuyển tải thành ngôn ngữ người dân thông dụng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần tăng cường việc cụ thể hóa các quy định pháp luật, chế tài vào trong các văn bản mang tính xã hội của cộng đồng như quy ước, hương ước. Đây sẽ là những văn bản pháp lý hóa các hoạt động BVMT, đưa ra các quy định phù hợp với quy định của pháp luật về BVMT song các quy định này mang tính chất cam kết nội bộ, dựa trên truyền thống văn hóa cộng đồng và đề cao sự chia sẻ trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền lợi về BVMT trong toàn thể cộng đồng.

3.1.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục BVMT trong toàn thể cộng đồng

Đây là giải pháp quan trọng, không chỉ làm thay đổi nhận thức thái độ và định hướng hành động của cá nhân mà còn củng cố, điều chỉnh hệ thống giá trị và hành động của toàn bộ cộng đồng về BVMT.

Hình thức cũng như nội dung của công tác tuyên truyền, vận động này rất phong phú, đa dạng, trong đó thường tập trung vào các hoạt động như: tuyên truyền tại môi trường học đường; trong gia đình; thông qua phương tiện thông tin đại chúng rộng khắp trong cả nước; thông qua các đoàn thể xã hội; qua các lớp tập huấn, hội thảo, chuyên đề,…

Đây là giải pháp thường được thực hiện kết hợp chặt chẽ với các giải pháp khác nhằm nâng cao tính hiệu quả, thiết thực như: tuyên truyền, giáo dục về các quy định của pháp luật trong lĩnh vực BVMT; tuyên truyền về các mô hình điểm cần nhân rộng hay những thông tin về các phong trào BVMT mang tính cộng đồng, tuyên dương những gương mặt tiêu biểu trong việc xây dựng hay áp dụng thành công các mô hình sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường,…. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần quan trọng vào việc triển khai phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”, giữ vai trò quyết định đến sự thành công của các mô hình XHH bảo vệ môi trường trên thực tế

Hầu hết các chương trình, dự án hay mô hình tổ chức sản xuất cần rất nhiều vốn và yếu tố khoa học kỹ thuật làm đầu vào, nhưng trên thực tế do thiếu nguồn lực quan trọng này mà hiệu quả của chúng thường không cao và việc nhân rộng ra địa bàn khác cũng rất hạn chế. Đối với những cộng đồng quá khó khăn, Chính phủ và các cơ quan tài trợ cần thông qua các dự án nâng cao năng lực, hỗ trợ về mặt đào tạo, cung cấp các cơ sở vật chất và trang thiết bị tối thiểu, chuyển giao các công nghệ tiên tiến, để người dân các cộng đồng có thể tiến hành các hoạt động BVMT.

Cùng với các giải pháp cơ bản nêu trên, về phía Nhà nước cần kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nói chung, các cơ quan quản lý về môi trường nói riêng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý. Đồng thời cần nâng cao năng lực, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức giúp họ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác BVMT qua đó giúp việc triển khai hiệu quả các mô hình, phong trào BVMT.

 3.1.3. Tăng cường vai trò đầu tàu và sự phối hợp của các đoàn thể quần chúng với chính quyền địa phương trong XHH  công tác BVMT

Các đoàn thể quần chúng được coi là những đại diện cho cộng đồng, bởi vậy trước hết đòi hỏi họ phải có nhận thức, ý thức tốt về BVMT; có sự thông suốt về quan điểm, có thái độ tích cực cũng như hành động rõ ràng. Khi đó mới có thể giáo dục các thành viên của mình và cộng đồng, lôi kéo họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ, cải tạo môi trường sống; xây dựng và vận hành có hiệu quả các mô hình BVMT theo hướng tiếp cận với các công nghệ sản xuất sạch; xây dựng đời sống văn hóa, sinh hoạt lành mạnh, thân thiện với môi trường …

Một cộng đồng mạnh là cộng đồng có sự phối hợp hoạt động của tất cả các đoàn thể quần chúng với nhau và với chính quyền địa phương. Do đó, trong việc xây dựng, áp dụng cũng như nhân rộng các mô hình BVMT, cần đẩy mạnh sự phối hợp giữa các đoàn thể quần chúng trong công tác tuyên truyền, giáo dục; tổ chức bàn bạc, học hỏi kinh nghiệm, huy động hội viên cùng nhân dân địa thực hiện những hoạt động BVMT tại địa phương. Ngoài ra, cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước ở địa phương đảm bảo sự gắn kết giữa đoàn thể và chính quyền; cùng nhau hoạt động trong xác định kế hoạch hành động, phối hợp và phân công trách nhiệm, tạo ra sự thống nhất quan điểm cũng như phương pháp tiếp cận trong giải quyết các vấn đề môi trường tại địa phương. Thực tế cho thấy, chỉ khi có sự nhất trí của các tổ chức đoàn thể tại cộng đồng thì các chế tài mới được áp dụng có hiệu quả.

Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động trong và ngoài các tổ chức đoàn thể, tập trung vào hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng lực chuyên môn của các cán bộ để họ đảm nhận tốt vai trò của mình.

Ngoài ra, chủ động đề xuất, đóng góp ý kiến trong việc xây dựng các mô hình về BVMT, phát huy vai trò chủ trì của mình trong việc áp dụng, triển khai các mô hình trong đời sống kinh tế – xã hội tại địa phương mình.

3.1.4. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng

Vận động cộng đồng chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của nhà nước về môi trường, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Phát huy quyền dân chủ cơ sở thông qua tham gia đóng góp ý kiến vào các hoạt động BVMT do chính quyền và đoàn thể tổ chức; thực hiện tốt vai trò giám sát hoạt động BVMT ở địa phương; chủ động đề xuất các ý tưởng, các mô hình tích cực về BVMT.

Tự chủ, sáng tạo trong việc áp dụng các mô hình BVMT trong sinh hoạt, sản xuất kinh doanh nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe và cải thiện môi trường.

Tăng cường tiếp cận thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và học tập các điển hình trong BVMT.

Xây dựng văn hóa cộng đồng, tăng cường tinh thần đoàn kết, phát huy phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của nhân dân tham gia vào BVMT .

3.1.5.Các cơ sở sản xuất cho dù nhỏ như sản xuất cá thể cần thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với vấn đề BVMT được quy định tại các văn bản pháp luật của Nhà nước. Lồng ghép các mục tiêu kinh tế với thực hiện các vấn đề xã hội và tăng cường biện pháp BVMT. Tăng cường tính chủ động và linh hoạt trong thay đổi phương thức quản lý, tổ chức sản xuất, áp dụng các mô hình sản xuất tiết kiệm, thân thiện với môi trường; xử lý tốt các vấn đề về rác thải, chất thải theo đúng cam kết và yêu cầu của nhà nước. Tham gia vào các chương trình do nhà nước tổ chức như giải thưởng “Doanh nghiệp xanh”, giải thưởng “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” năm 2009 qua đó nhằm khẳng định ý thức và mục tiêu bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Cộng đồng dân cư của Việt Nam có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Vấn đề cơ bản là các cơ quan nhà nước có cơ chế, chính sách khuyến khích nhân dân tham gia; các đoàn thể nhân dân biết cách khơi nguồn sáng tạo, làm chủ của quần chúng thì sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững sẽ thành công

3.2. Các giải pháp cụ thể

Để phát huy các ưu điểm của các mô hình đã và đang phát triển, khắc phục các tồn tại hạn chế, những người thực hiện nhiệm vụ đã đúc rút 8 giải pháp cụ thể cần thiết để nâng cao nhận thức và hoạt động BVMT của cộng đồng như sau :

  1. Đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ, hành vi của người dân, nhất là nông dân sống thân thiện với môi trường. Cơ quan quản lý nhà nước giao cho các tổ chức chính trị-xã hội (MTTQ, Công đoàn, phụ nữ, thanh niên, Hội nông dân), xã hội –nghề nghiệp (Hội BVMT &TNTN, Hội KHKT ATVSLĐ, Hội YHLĐ&VSMT…) thực hiện nhiệm vụ truyền thông BVMT và phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu.
  2. Năng cao năng lực cho các đoàn thể nhân dân để thực hiện nhiệm vụ BVMT và phát triển bền vững. Giải pháp này bao gồm:

+ Tăng cường tập huấn nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm công tác vận động quần chúng, làm công tác truyền thông và tổ chức các hoạt động cho đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông, phóng viên các cơ quan thông tin đại chúng.

+ Biên sọan, in, phát hành tài liệu truyền thông và tập huấn.

+ Tổ chức thăm quan, trao đổi kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng tham gia BVMT và phát triển bền vững.

  1. Đảm bảo các quyền tiếp cận của quần chúng tham gia bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:

+ Thông tin đầy đủ, chính xác về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững ứng phó với biến đổi khí hậu

vững.

+ Thông tin  về các chính sách khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia BVMT và phát triển bền vững.

+ Thông tin về nguồn lực trong nước và quốc tế để tham gia BVMT và phát trriển bền vững.

+ Thông tin  về các hoạt động phong trào quần chúng, các mô hình điển hình của các đoàn thể chính trị- xã hội  và xã hội nghề nghiệp trong BVMT và phát triển bền vững.

  1. Nhà nước tập trung hỗ trợ cho các đoàn thể chính trị- xã hội và xã hội nghề nghiệp có chức năng, nhiệm vụ và năng lực tham gia BVMT và phát triển bền vững.
  2. Tiếp tục xây dựng mới và nhân rộng  các mô hình tiên tiến có cộng đồng tham gia BVMT và phát triển bền vững. Bao gồm:

+ Nghiên cứu tổng kết đánh giá các mô hình cộng đồng tham gia BVMT và phát triẻn bền vững.

+ Xây dựng mới một số mô hình trên các vùng miền khác nhau.

+ Nghiên cứu đề ra giải pháp duy trì và nhân rộng mô hình tiên tiến của quần chúng tham gia BVMT và phát triển bền vững.

  1. Đổi mới một cách toàn diện công tác truyền thông nâng cao nhận thức và tập huấn nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ của các đoàn thể chính trị- xã hội  và xã hội nghề nghiệp.
  2. Xây dựng các quy định về BVMT và phát triển bền vững ở các cộng đồng dân cư như: Hương ước, quy ước, nội quy, quy định…
  3. Xây dựng tiêu chí đánh giá cộng đồng tham gia BVMT và phát triển bền vững. Trên cơ sở tiêu chí để kiểm tra, đánh giá và xếp loại thi đua – khen thưởng.