VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

PHÂN VIỆN KHOA HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG MIỀN TRUNG

Sub-Institue For Labour And Environment Protection In Central Viet Nam (SILEP)

Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

26/06/2018

  1. MỞ ĐẦU

Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam, hiện nay DNNVV Việt Nam chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp (DN) đang hoạt động trên cả nước. DNNVV đã và đang đóng vai trò rất quan trọng, là động lực của nền kinh tế, nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động (NLĐ), góp phần ổn định an sinh xã hội. Hằng năm, các DN này tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội, thu hút 38% vốn đầu tư xã hội; đóng góp 31% tổng kim ngạch xuất khẩu, 40% GDP cho nền kinh tế…Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước (QLNN) về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) trong các DNNVV vẫn còn nhiều bất cập. Đặc biệt, sau khi luật ATVSLĐ ở Việt Nam chính thức có hiệu lực từ 01/7/2016 thì việc nâng cao QLNN về ATVSLĐ trong các DNNVV là một trong những nội dung quan trọng cần được tập trung xem xét và thực hiện.

Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

  1. MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ THỰC TRẠNG QLNN VỀ ATVSLĐ TRONG CÁC DNNVV

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta quản lý ATVSLĐ đối với các doanh nghiệp trong đó có các DNNVV bằng một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách…nhằm tạo lập môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định, hiệu quả nhằm đảm bảo ATVSLĐ trong các DNNVV, đồng thời góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh của DN.

Các nội dung chính của QLNN về ATVSLĐ trong các DNNVV bao gồm:

– Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý và điều hành thống nhất hoạt động ATVSLĐ;

– Tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSLĐ;

– Thực hiện quyền thanh tra, kiểm tra, kiểm soát công tác ATVSLĐ.

2.1. Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATVSLĐ 

Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về ATVSLĐ là hoạt động đầu tiên vô cùng quan trọng nhằm tạo mội trường pháp lý đầy đủ, thuận lợi nhằm đảm bảo ATVSLĐ trong các DNNVV. Trước sự phát triển của nền kinh tế – xã hội và của các DNNVV, Nhà nước ta đang ngày càng hoàn thiện công cụ quản lý thông qua việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về ATVSLĐ phù hợp với các DNNVV.

Tại mỗi giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật ATVSLĐ ở Việt Nam lại có những thay đổi phù hợp. Nhìn lại quá trình “luật hóa” công tác ATVSLĐ chúng ta có thể nêu một số mốc quan trọng như sau: Năm 1964, Điều lệ tạm thời về Bảo hộ Lao động ra đời và tồn tại gần 30 năm; đến năm 1992, Pháp lệnh Bảo hộ Lao động được Quốc hội nước Việt Nam thống nhất thông qua; và năm 1995, Bộ luật Lao động dành hẳn chương IX gồm 20 điều quy định về ATVSLĐ chính thức có hiệu lực đánh dấu bước tiến mới về pháp luật về ATVSLĐ. 20 năm sau, pháp luật về ATVSLĐ đã được nâng lên tầm cao mới khi Quốc hội thông qua luật An toàn, Vệ sinh Lao động vào ngày 25 tháng 6 năm 2015 gồm 7 chương với 93 điều, quy định đầy đủ, chi tiết mọi lĩnh vực, điều khoản liên quan đến công tác ATVSLĐ. Điều này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và tính mạng NLĐ trong mọi thành phần kinh tế, không chỉ trong lĩnh vực có quan hệ lao động mà cả trong lĩnh vực phi kết cấu (không có hợp đồng lao động).

Để Luật ATVSLĐ chính thức có hiệu lực và đi vào đời sống, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật đã được ban hành. 03 Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 37, 39 và 44) đã được ban hành vào ngày 15/5/2016 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ATVSLĐ về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện ATVSLĐ và quan trắc môi trường lao động; bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc; kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, khai báo, thống kê, báo cáo tai nạn lao động…Đồng thời, cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATVSLĐ là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đã ban hành hơn 10 Thông tư hướng dẫn (tính đến tháng 4/2018) về các vấn đề như:

– Tổ chức thực hiện công tác ATVSLĐ đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh;

– Ban hành Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ;

– Quy định giá tối thiệu đối với dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với các máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ;

– Hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện ATVSLĐ;

– Thực hiện chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp  bắt buộc…

– Ngoài ra, rất nhiều Bộ liên quan như Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải… cũng ban hành nhiều thông tư hướng dẫn về lĩnh vực ATVSLĐ mà các Bộ này chịu trách nhiệm quản lý.

2.2. Tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSLĐ

Một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về ATVSLĐ là tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSLĐ. Nội dung này cần được quy định rõ ràng, đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân trong công tác ATVSLĐ. Chỉ có trên cơ sở hiểu rõ và nắm vững đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của mình thì các cấp chính quyền, các tổ chức và cá nhân, đặc biệt là người sử dụng lao động, cán bộ làm công tác ATVSLĐ mới từ đó đề ra được chương trình hành động, nội dung công việc cụ thể để làm tốt công tác ATVSLĐ tại các cơ sở, đơn vị, địa phương và ngành của mình.

Những qui định của pháp luật ATVSLĐ về trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân  trong công tác ATVSLĐ được nêu đầy đủ trong luật An toàn, vệ sinh lao động, các nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp qui dưới luật.

Do công tác ATVSLĐ đa ngành, đa nghề nên ngoài việc Chính phủ giao cho Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thay mặt Nhà nước quản lý thì còn có sự tham gia phối hợp của rất nhiều các bộ ngành khác như: Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng…. Bên cạnh đó còn có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…), các tổ chức xã hội (Hội KHKT ATVSLĐ VN, Hội Y học Lao động VN…).

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội giao cho Cục An toàn Lao động là đơn vị có trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực ATVSLĐ trong phạm vi cả nước. Trước đây, Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành trong đó có phòng thanh tra ATVSLĐ. Tuy nhiên, sau khi nghị định số 110/2017/NĐ-CP ngày 04/10/2017 có hiệu lực thì chức năng thanh tra chuyên ngành về ATVSLĐ được giao cho Cục An toàn Lao động. Chức năng quản lý ATVSLĐ ở địa phương theo cơ cấu ngành dọc được giao cho các Sở Lao động, Thương binh và Xã hội.

Để hỗ trợ cho các hoạt động QLNN về ATVSLĐ, sau khi luật ATVSLĐ được thông qua, Hội đồng Quốc gia về ATVSLĐ đã được thành lập theo Quyết định số 1037/QĐ-TTg ngày 10/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Cho đến nay (tháng 4/2018), Hội đồng đã tổ chức đối thoại thường niên được 2 lần. Tại buổi đối thoại, ngòai các thành viên thuộc Hội đồng, còn có sự tham gia của các đại biểu là đại diện của người sử dụng lao động, người lao động, các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp, các sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Liên đòan Lao động địa phương…

Theo các chuyên gia, hiện nay đội ngũ cán bộ phụ trách công tác ATVSLĐ trong cả nước nói chung và trong các DNNVV nói riêng còn thiếu về số lượng; thiếu những cán bộ có kinh nghiệm lâu năm và hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực ATVSLĐ; thiếu đội ngũ chuyên gia tư vấn về ATVSLĐ cho các DNNVV.

2.3. Thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác An toàn, vệ sinh lao động

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một nội dung thiết yếu trong QLNN, là phương tiện đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ cương và hiệu lực trong QLNN. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát công tác ATVSLĐ góp phần làm cho pháp luật ATVSLĐ được thực hiện hiệu quả.

Hoạt động thanh tra ATVSLĐ trước hết mang tính phòng ngừa, ngăn chặn, khi phát hiện vi phạm thì chỉ xử lý những vi phạm ở mức độ phạm vi hành chính và kỷ luật hành chính.

Lực lượng thanh tra lao động trong cả nước tương đối mỏng. Theo thống kê của Thanh tra Bộ, cả nước có khoảng 465 thanh tra viên lao động. Số cán bộ làm công tác thanh tra chính sách lao động và an toàn, vệ sinh lao động trong cả nước chỉ đạt khoảng 1/3 tổng số cán bộ thanh tra lao động.

Số lượng và tần suất các cuộc thanh tra về lao động tại các doanh nghiệp còn rất thấp. Trung bình hằng năm chỉ có khoảng 5-8% số doanh nghiệp được thanh tra về lao động. Đặc biệt số cơ sở sử dụng dưới 10 lao động được thanh tra còn rất ít.  Bên cạnh đó, quy định xử phạt chưa hợp lý, chế tài xử phạt chưa cao và chưa có tính răn đe.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO QLNN VỀ ATVSLĐ TRONG CÁC DNNVV Ở VIỆT NAM 

3.1 Định hướng phát triển các DNNVV ở Việt Nam 

Khu vực DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Để đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các doanh nghiệp này góp phần ngày càng lớn vào phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều Quyết định và chương trình nhằm phát triển DNNVV với quan điểm:

– Phát triển DNNVV là chiến lược lâu dài, nhất quán và xuyên suốt trong chương trình hành động của Chính phủ, là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế của quốc gia.

– Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi cho DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển.

– Hỗ trợ phát triển DNNVV nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.

3.2. Hướng phát triển công tác an toàn, vệ sinh lao động 

Việc phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, cuộc cách mạng công  nghiệp 4.0…., sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa sẽ làm xuất hiện những thay đổi nhanh chóng về quy trình và tổ chức lao động, điều kiện làm việc. Chính vì vậy, trong thời gian tới, công tác ATVSLĐ cũng có những xu hướng phát triển mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, của hoạt động sản xuất. Theo chúng tôi, một số xu hướng phát triển công tác ATVSLĐ sắp tới là:

– Xây dựng văn hóa an toàn lao động, lấy phương trâm phòng ngừa là chính: trong thời gian gần đây, trên thế giới vấn đề văn hóa an toàn và văn hóa phòng ngừa đang được đề cập mạnh mẽ về ý nghĩa nhân đạo, quan niệm và các ứng xử của doanh nghiệp đối với việc bảo đảm ATVSLĐ. Việc chủ động phòng ngừa các nguy cơ gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng được Tổ chức An sinh xã hội quốc tế (ISSA) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đề ra trong hoạt động đảm bảo an toàn và sức khỏe cho NLĐ.

– Đẩy mạnh phân tích các nguy cơ mới xuất hiện trong sản xuất: các thành tựu phát triển của  khoa học – công nghệ đã mang lại nhiều sự thay đổi tích cực trong đó có các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, sẽ có những ngành nghề, việc làm được thay thế bằng những công việc, ngành nghề mới; tự động hóa, Robot hóa, tin học hóa, internet vạn vật… sẽ ngày càng thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…Vì vậy, bên cạnh các yếu tố nguy hiểm và có hại truyền thống sẽ xuất hiện những yếu tố nguy hiểm, có hại mới gây ảnh hưởng đến sự an toàn và sức khỏe của người lao động và chúng cần được nghiên cứu, phân tích kỹ để có các biện pháp phòng ngừa phù hợp.

– Xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế về ATVSLĐ: công tác ATVSLĐ là một trong những nội dung quan trọng được đề cập trong kế hoạch tổng thể cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN giai đoạn 2016-2025. Hội nghị Ban điều phối Mạng ATVSLĐ các nước ASEAN đã xây dựng kế hoạch hành động về ATVSLĐ cho các nước ASEAN 2016-2020, trong đó tập trung vào  các lĩnh vực: hoàn thiện khung chính sách; nâng cao các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ; mở rộng chia sẻ thông tin, công tác đào tạo huấn luyện; hỗ trợ trao đổi chuyên gia và chia sẻ kinh nghiệm, các điển hình ATVSLĐ tại các nước…nhằm xây dựng một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh. Trên thế giới các diễn đàn lớn về ATVSLĐ cũng thường xuyên được tổ chức.

3.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao QLNN về ATVSLĐ trong các DNNVV Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ nhất, hoàn thiện công tác xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về ATVSLĐ 

Trên cơ sở luật An toàn, Vệ sinh Lao động, các Nghị định, Thông tư liên quan đã được ban hành, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ATVSLĐ trong các DNNVV cần tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cần lưu ý đến việc lấy ý kiến của các Bộ, ngành liên quan, của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổng Liên đòan Lao động Việt Nam, Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, Hiệp hội các DNNVV Việt Nam, Hội KHKT An toàn và Vệ sinh Lao động Việt Nam….Các ý kiến từ các cơ quan, tổ chức này đại diện cho người sử dụng lao động, NLĐ, các đơn vị chuyên môn về ATVSLĐ gồm các nhà quản lý, nhà khoa học sẽ rất thiết thực, chắc chắn sẽ góp phần nâng cao tính khả thi và hiệu quả của các văn bản, quy phạm pháp luật về ATVSLĐ trong các DNNVV.

Đối với lĩnh vực thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về ATVSLĐ cho các DNNVVV: do các DNNVV gặp khó khăn về kinh phí trong việc thực hiện các hoạt động liên quan đến thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về ATVSLĐ, nên cần có những quy định rõ ràng về việc thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ cho các DNNVV trong lĩnh vực này. Cần có quy định cụ thể việc Nhà nước sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp như thế nào và loại hình doanh nghiệp nào sẽ được ưu tiên hỗ trợ. Đồng thời phải thông báo rộng rãi đến các doanh nghiệp để họ chủ động tham gia các dự án.

Đối với lĩnh vực xây dựng mô hình quản lý ATVSLĐ dành cho các DNNVV: hiện nay có một số mô hình quản lý ATVSLĐ được sử dụng phổ biến trên thế giới như hệ thống quản lý ATVSLĐ ILO-OSH 2001; hệ thống quản lý ATVSLĐ OHSAS 18001:2007. Những mô hình này có thể áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV. Trong quá trình xây dựng và áp dụng các mô hình này cần lưu ý tới đặc thù của các DNNVV ở Việt Nam.

Đối với lĩnh vực khen thưởng và chế tài xử phạt ATVSLĐ: cần xây dựng, sửa đổi và ban hành các quy định cụ thể về khen thưởng và các chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật ATVSLĐ. Nên có các hoạt động khen thưởng theo chuyên đề về ATVSLĐ, đặc biệt trong dịp tháng hành động về ATVSLĐ hằng năm. Đồng thời, cần cụ thể hóa các vi phạm và khung hình phạt đối với các vi phạm pháp luật về ATVSLĐ dành cho các DNNVV. Tuy nhiên, đối với các DNNVV cần mang tính khuyến khích thực hiện các quy định về ATVSLĐ và các mức phạt vi phạm pháp luật về ATVSLĐ cũng không thể như các doanh nghiệp lớn.

Thứ hai, hoàn thiện bộ máy tổ chức QLNN về ATVSLĐ và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện công tác ATVSLĐ trong các DNNVV 

Trên cơ sở luật ATVSLĐ, Hội đồng ATVSLĐ các cấp cần được thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động. Hội đồng quốc gia về ATVSLĐ là tổ chức tư vấn cho Chính phủ trong việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về ATVSLĐ. Tại các cuộc đối thoại thường niên do Hội đồng quốc gia ATVSLĐ tổ chức cần mở rộng thành phần tham dự, trong đó có Hiệp hội các DNNVV Việt Nam, đại diện các DNNVV… để những vấn đề khúc mắc của các DNNVV về ATVSLĐ sẽ được trình bày với Hội đồng quốc gia. Hơn nữa, Cục An toàn Lao động có thể thành lập một bộ phận phụ trách các vấn đề về ATVSLĐ trong các DNNVV. Bộ phận này sẽ xây dựng các chương trình hỗ trợ về ATVSLĐ dành cho các DNNVV, chú trọng tới các vấn đề xây dựng mô hình ATVSLĐ cho các DNNVV, tư vấn các vấn đề liên quan đến chính sách, quy định pháp luật về ATVSLĐ cho các DNNVV…

Để nâng cao năng lực thực thi của các cán bộ quản lý về ATVSLĐ thì ngoài việc đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức hành chính phải chú trọng đào tạo về kỹ năng hành chính, đáp ứng yêu cầu kỹ năng công nghệ, kỹ năng xử lý thu thập thông tin, xây dựng chương trình, kỹ năng sử dụng các công cụ quản lý… Cần tiến hành rà soát, xác định trình độ của đội ngũ đang thực hiện công việc liên quan đến ATVSLĐ để từng bước xây dựng chương trình đào tạo phù hợp.

Nhà nước nên có chương trình đạo tạo đội ngũ chuyên gia tư vấn về ATVSLĐ cho các doanh nghiệp. Đội ngũ này có thể được tập hợp từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan như: Cục An toàn Lao động, các Ban An toàn của các Bộ, ngành, các Trung tâm kiểm định an toàn…Bên cạnh các cán bộ quản lý, đội ngũ chuyên gia nên được xây dựng từ các tổ chức liên quan như: Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động, Ban Quan hệ Lao động (Tổng Liên đòan Lao động Việt Nam), Hội KHKT An toàn và Vệ sinh Lao động Việt Nam, Hiệp hội DNNVV Việt Nam… Ban đầu, việc xây dựng đội ngũ các chuyên gia này được thực hiện ở cấp Trung ương. Sau đó, có thể nhân rộng tới cấp Tỉnh, cấp Huyện để việc tư vấn công tác đảm bảo ATVSLĐ trong các DNNVV được sâu rộng, sát sao và phù hợp với thực tế của địa phương.

Thứ ba, tăng cường năng lực thanh tra ATVSLĐ

Từ tháng 10 năm 2017, Cục An toàn Lao động được bổ sung chức năng thanh tra chuyên ngành về ATVSLĐ. Phòng Pháp chế Thanh tra đã được thành lập với 04 cán bộ (tính đến tháng 4/2018). Trong bối cảnh biên chế nói chung và biên chế về thanh tra ATVSLĐ nói riêng bị hạn chế, cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng của đội ngũ thanh tra ATVSLĐ. Ưu tiên những cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, chuyên sâu một nghề, biết nhiều nghề, đặc biệt là những cán bộ vừa có chuyên môn nghiệp vụ vừa có trình độ quản lý. Để nâng cao chất lượng cán bộ thanh tra cần nâng cao công tác đào tạo và đào tạo lại.

Cần tăng cường bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý và hoạt động của các cơ quan chuyên ngành ATVSLĐ. Áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thanh tra ATVSLĐ. Xây dựng cơ sở dữ liệu, cập nhật văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu liên quan trên hệ thống phần mềm quản lý để trao đổi thông tin về hoạt động và kết quả thanh tra của các cơ quan thanh tra chuyên ngành ATVSLĐ.

Thứ tư, nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATVSLĐ.

Đây là một hoạt động có hiệu quả cao và không quá tốn kém, tác động trực tiếp đến người sử dụng lao động, NLĐ trong các DNNVV nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về ATVSLĐ, từ đó họ tự giác và chủ động phòng ngừa các mối nguy hiểm, có hại, bảo vệ sức khỏe của mình.

Trên cơ sở mạng thông tin quốc gia về ATVSLĐ hiện có, cần bổ sung, củng cố để mạng hoạt động hiệu quả hơn. Cần xây dựng một website chính thức của mạng thông tin quốc gia. Đây sẽ là nguồn dữ liệu quý báu trong việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến về ATVSLĐ. Trang web sẽ cung cấp cho mọi đối tượng hệ thống văn bản pháp luật về ATVSLĐ. Đồng thời trên trang web cũng đưa ra các tấm gương điển hình trong việc thực hiện tốt về pháp luật ATVSLĐ.

Đổi mới theo hướng đa dạng và đan xen các nội dung, hình thức tuyên truyền; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về ATVSLĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thanh ở các xã, phường…

Phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, Hội Nông dân, Liên minh Hợp tác xã và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp khác như Hội KHKT ATVSLĐ Việt Nam, Hiệp hội các DNVVN Việt Nam…trong việc động viên, tổ chức phong trào hoạt động quần chúng về ATVSLĐ.

Thứ năm, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về ATVSLĐ

Nghiên cứu khoa học, công nghệ về ATVSLĐ là một nội dung rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn đến hiệu quả và chất lượng của công tác ATVSLĐ. Cần có những chương trình, đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật về ATVSLĐ liên quan đến cải tiến công nghệ, đổi mới trang thiết bị, cải tạo nhà xưởng, xử lý môi trường, công trình kỹ thuật an toàn, các phương tiện bảo vệ cá nhân… nhằm cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho các DNNVV.

Cần có các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động theo yêu cầu hội nhập. Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về điều kiện lao động sẽ là căn cứ để xây dựng chế độ chính sách đảm bảo ATVSLĐ trong các DNNVV, cũng như chính sách đãi ngộ và bảo vệ NLĐ.

  1. KẾT LUẬN

Với mục tiêu tăng cường công tác quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong các DNNVV nhằm đảm bảo an toàn, sức khỏe, tính mạng cho NLĐ nói chung và trong các DNNVV nói riêng thì cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết là những giải pháp hoàn thiện xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về ATVSLĐ; hòan thiện bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về ATVSLĐ và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện công tác ATVSLĐ trong các DNNVV; tăng cường năng lực thanh tra ATVSLĐ. Ngoài ra, cần phải đồng thời thực hiện các giải pháp như: nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATVSLĐ; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về ATVSLĐ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2016), Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Lao động. Hà Nội.
  2. Hồ sơ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động giai đoạn 2010-2015.
  3. Cục An toàn lao động (2012), Chiến lược an toàn vệ sinh lao động ở VN giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn 2020.
  4. Nguyễn Thu Hằng (2018), Luận án Tiến sỹ “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”.

Nguyễn Thu Hằng

Viện KH An toàn và Vệ sinh Lao động

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)